Hai quan Ha Tinh - Hatinh Customs Department

Giới thiệu văn bản mới

Một số quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính

9/11/2017 9:32:25 AM

        Sau hơn 5 năm áp dụng Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính vào thực tiến, đến nay đã có những quy định không còn phù hợp với điều kiện, phát triển kinh tế - xã hội. Nhằm khắc phục những tồn tại và tạo cơ sở pháp lý chung, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về xử lý vi pham hành chính, ngày 18/8/2017 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 97/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2016/NĐ-CP. 

        Một số điểm mới được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017, cụ thể như sau:

1. Về đối tượng vi phạm:

 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP đã bổ sung quy định về các tiêu chí xác định đối tượng vi phạm là tổ chức. Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi đủ các điều kiện: Là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật; Là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.Tổ chức bị xử phạt xi phạm hành chính được quy định cụ thể tại các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước.

Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ nhiệm vụ và hành vi vi phạm đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính mà bị xử phạt theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

Cơ quan Nhà nước thực hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm vụ quản lý Nhà nước được giao, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan.

2. Về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính:

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP đã bổ sung thêm thẩm quyền của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành vào khoản 3 Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP. Theo đó, Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc phạm vi, nội dung cuộc thanh tra trong thời hạn thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị khiếu nại thì người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết hoặc chỉ đạo người đã ban hành quyết định xử phạp vi phạm hành chính giải quyết theo quy định của pháp luật về thanh tra và khiếu nại.

3. Về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện:

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP quy định bổ sung thêm thẩm quyền tịch thu đối với tổ chức vi phạm hành chính. Theo đó, những chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại các khoản 1,2 Điều 38; các khoản 3,4,5 Điều 39; khoản 3 Điều 40; các khoản 4,5,6 Điều 41; các khoản 3,4 Điều 42; các khoản 2,3,4 Điều 43; các khoản 3,4 Điều 44; các khoản 2,3 Điều 45; các khoản 1,2,3,5 Điều 46; Điều 47; các khoarn1,2,3 Điều 48; các khoản 2,4 Điều 49 Luật Xử lý vi phạm hành chính có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính có giá trị gấp 02 lần trị giá tang vật, phương tiện bị tịch thu của cá nhân vi phạm hành chính.

4. Về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính:

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP sửa đổi, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính gồm người có thẩm quyền xử phạt, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang thi hành công vụ, nhiệm vụ theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành; người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu và những người được chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, tàu trưởng được giao nhiệm vụ lập biên bản. Các chức danh có thẩm quyền lập biên bản được quy định cụ thể tại các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Nhà nước quản lý.

Trường hợp vụ việc vi phạm vừa có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, vừa có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì người đó vẫn phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm và chuyển ngay biên bản đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật Xử phạt vi phạm hành chính.

5. Về thẩm quyền xử phạt khi tang vật là hàng cầm:

Theo quy định tại Nghị định số 97/2017/NĐ-CP, trường hợp các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước có quy định trị giá hoặc số lượng của hàng cấm và khung tiền phạt đối với hành vi vi phạm có tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo quy định tại Chương II, Phần thứ 2 Luật Xử phạt vi phạm hành chính và quy định của Nghị định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm không thuộc trường hợp nêu trên thì không tiến hành xác định trị giá tang vật vi phạm hành chính mà chuyển hồ sơ vụ việc đến người có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Nghị định.

Thẩm quyền xử phạt đối với trường hợp tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm được xác đinh theo nguyên tắc sau: Nếu người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc là người có thẩm quyền xử phạt cao nhất trong lĩnh vực quản lý nhà nước thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó; Nếu người có thẩm quyền giải quyết đang giải quyết vụ việc không phải là người có thẩm quyền xử phạt cao nhất trong lĩnh vực quản lý Nhà nước hoặc không phải là Chủ tịch UBND cấp tỉnh thì người đó phải chuyển vụ việc vi phạm đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi xẩy ra vi phạm hoặc người có thẩm quyền xử phạt cao nhất trong lĩnh vực quản lý Nhà nước đó để ra quyết định xử phạt.

6. Về việc sửa đổi, bổ sung, đính chính quyết định về xử phạt vi phạm hành chính:

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP bổ sung, quyết định vi pham hành chính được sửa đổi, bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp: Có sai sót về kỹ thuật soạn thảo văn bản làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định hoặc có sai sót về nội dung nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính được đính chính khi có sai sót về kỹ thuật soạn thảo mà không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định. Thời hạn về việc sửa đổi, bổ sung, đính chính quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, trừ trường hợp hết thời hiệu quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ có hiệu lực thi hành từ ngày 05/10/2017.

Quỳnh Trang – CBL&XLVP

Tin cùng chuyên mục