Hai quan Ha Tinh - Hatinh Customs Department

Giới thiệu văn bản mới

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ

9/27/2017 8:07:29 AM

            Ngày 18/8/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2017/NĐ-CP quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính. Nghị định 97/2017/NĐ-CP gồm có 4 Điều,  có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/10/2017 và có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

1. Bổ sung quy định về các tiêu chí xác định đối tượng vi phạm hành chính là tổ chức 

Theo đó, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP quy định  tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện:

          - Là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật;

           - Hành vi vi phạm hành chính do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh tổ chức hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của tổ chức và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải được quy định cụ thể tại các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.

Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành vi vi phạm đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan.

2. Bổ sung thêm quy định về thẩm quyền 

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP quy định  bổ sung thêm thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành vào khoản 3 Điều 5 Nghị định 81/2013/NĐ-CP. Theo đó, Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc phạm vi, nội dung cuộc thanh tra trong thời hạn thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị khiếu nại thì người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết hoặc chỉ đạo người đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính giải quyết theo quy định của pháp luật về thanh tra và khiếu nại.

Nghi định bổ sung quy định: Cấp phó của những người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính được giao quyền thì có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quy định tại các khoản 2,3,4,5,6 và 7 Điều 119 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP quy định bổ sung thêm thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính. Theo đó, những chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại các khoản 1, 2 Điều 38; các khoản 3, 4, 5 Điều 39; khoản 3 Điều 40; các khoản 4, 5, 6 Điều 41; các khoản 3, 4 Điều 42; các khoản 2, 3, 4 Điều 43; các khoản 3, 4 Điều 44; các khoản 2, 3 Điều 45; các khoản 1, 2, 3, 5 Điều 46; Điều 47; các khoản 1, 2, 3 Điều 48; các khoản 2, 4 Điều 49 Luật xử lý vi phạm hành chính có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính có giá trị gấp 02 lần giá trị tang vật, phương tiện bị tịch thu của cá nhân vi phạm hành chính.

Theo Nghị định 97/2017/NĐ-CP, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính gồm người có thẩm quyền xử phạt, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang thi hành công vụ, nhiệm vụ theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành; người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu và những người được chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu giao nhiệm vụ lập biên bản. Các chức danh có thẩm quyền lập biên bản được quy định cụ thể tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.

Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền xử phạt quy định tại khoản 1 Điều này (khoản 1, khoản 2 Điều 6) chỉ có quyền lập biên bản về những vi phạm thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về việc lập biên bản.

Trường hợp vụ việc vi phạm vừa có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, vừa có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, thì người đó vẫn phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm và chuyển ngay biên bản đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP quy định bổ sung thêm quy định về thẩm quyền xử phạt trong trường hợp tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm( Điều 12a). Theo đó, trường hợp các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có quy định trị giá hoặc số lượng của hàng cấm và khung tiền phạt đối với hành vi vi phạm có tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo quy định tại Chương II, Phần thứ hai Luật xử lý vi phạm hành chính và quy định của nghị định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm không thuộc trường hợp nêu trên thì không tiến hành xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính mà phải chuyển hồ sơ vụ việc đến người có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 12a.

Thẩm quyền xử phạt đối với trường hợp tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm được xác định theo nguyên tắc sau:

           - Nếu người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc là người có thẩm quyền xử phạt cao nhất trong lĩnh vực quản lý nhà nước thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó.

         - Nếu người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc không phải là người có thẩm quyền xử phạt cao nhất trong lĩnh vực quản lý nhà nước hoặc không phải là Chủ tịch UBND cấp tỉnh thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi xảy ra vi phạm hoặc người có thẩm quyền xử phạt cao nhất trong lĩnh vực quản lý nhà nước đó để ra quyết định xử phạt.

Thẩm quyền quyết định tạm giữ tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm được thực hiện theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều này (12a).”

3. Sửa đổi, bổ sung, đính chính quyết định về xử lý vi phạm hành chính; về hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính 

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP của Chính Phủ quy định bổ sung thêm việc sửa đổi, bổ sung, đính chính quyết định về xử lý vi phạm hành chính. Theo đó quyết định về xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung, đính chính khi thuộc một trong các trường hợp sau:

        - Có sai sót về kỹ thuật soạn thảo làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định;

        - Có sai sót về nội dung nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định.

         Nghị định quy định sửa đổi, bổ sung về hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính. Theo quy định này, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp:

          - Có vi phạm quy định pháp luật về thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính;

         - Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính.

        - Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy sđịnh tại khoản 10 Điều 12 Luật xử lý vi phạm hành chính;

         - Có quyết định khởi tố vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đối với vụ án có dấu hiệu tội phạm théo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính.

          Tùy theo tính chất, mức độ sai sót, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp:

           - Có sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định;

         - Quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giửi quyết khiếu nại đượ ban hành dẫn đến việc thay đổi căn cứ, nội dung của quyết định xử lý vi phạm hành chính.

          Đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này (Điều 6b) hoặc trường hợp có bản án quyết định của toà án về việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết  định về xử lý vi phạm hành chính bị khởi kiện, nếu có căn cứ ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm thì người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển cho người có thẩm quyền ban hành quyết định mới.

Thời hạn việc thực hiện sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành  quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, trừ trường hợp hết thời hiệu quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

4. Nghị định quy định bổ sung về xử  lý tang vật, phương tiện bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu

 Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước để thay thế cho việc thực hiện hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, nếu không nộp thì bị cưỡng chế thực hiện theo quy định tại Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Thời hạn, thủ tục, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu được thực hiện theo quy định tại các khoản 5, 8 và 9 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính. 

Ngoài những nội dung cơ bản trên, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP đã quy định nhiều nội dung mới chi tiết khác, như  hiệu lực, thời hạn, thời hiệu của quyết định sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính; nộp tiền phạt vi phạm  hành chính; quy định mẫu biên bản và mẫu quyết định xử lý vi phạm hành chính...

                                          Trọng Thống – Phòng CBL&XLVP

Tin cùng chuyên mục