Hai quan Ha Tinh - Hatinh Customs Department

Giới thiệu văn bản mới

Một số nội dung bổ sung, sửa đổi quan trọng về trị giá hải quan tại Thông tư 60/2019/TT-BTC

10/8/2019 9:21:15 AM
Ngày 30/8/2019, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 60/2019/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Thông tư 60/2019/TT-BTC chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2019 với một số nội dung bổ sung, sửa đổi quan trọng cụ thể như sau:
- Về quy định chung:
Tại Điều 2 Thông tư 39/2015/TT-BTC (TT39/2015) đã quy định 14 khái niệm, định nghĩa, Thông tư 60/2019/TT-BTC (TT60/2019) bổ sung 05 khái niệm và sửa đổi 01 khái niệm tại Điều giải thích từ ngữ. Quy định về phần mềm ứng dụng tại khoản 5 Điều 2 Thông tư 39/2015/TT-BTC là khái niệm được sửa đổi. Quy định cũ gây khó khăn trong việc phân biệt giữa các loại phần mềm như: phần mềm điều khiển, điều hành thiết bị và phần mềm ứng dụng. Theo hướng dẫn của WCO từ năm 1994 thì trị giá của phần mềm điều hành được tính vào trị giá của thiết bị còn trị giá của phần mềm ứng dụng thì tùy thuộc từng nước có hoặc không tính vào trị giá của vật chứa đựng nó khi nhập khẩu. Do đó, TT60 sửa đổi khoản 5 và bổ sung khoản 19 quy định rõ hai loại phần mềm này, và trên cơ sở nhận thức đó để hướng dẫn xác định trị giá máy móc thiết bị và vật chứa đựng trung gian tại Điều 6 của Thông tư. 4 khái niệm nữa được bổ sung gồm khái niệm về thanh toán gián tiếp và thanh toán trực tiếp; khái niệm về đã thanh toán và sẽ phải thanh toán.
Ngoài ra, Thông tư 60/2019/TT-BTC còn bổ sung, sửa đổi trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan theo hướng: Bổ sung thêm trường hợp cơ quan hải quan xác đnh trị giá hải quan nếcó đủ cơ sở bábỏ trị giá khai báo; bổ sung thêm một khoản quy định thời hạn xử lý của cơ quan hải quan khi xem xét, quyết định khoản giảm giá;... nhằm nâng cao trách nhiệm của công chức hải quan và minh bạch các quyết định của công chức hải quan trong thực thi nhiệm vụ.
Khi kiểm tra kết quả khai trị giá, cơ quan hải quan được quyền yêu cầu người khai hải quan xuất trình, nộp chứng từ, tài liệu liên quan đến việc xác định trị giá của hàng hóa, liên quan đến giao dịch xuất nhập khẩu hàng hóa, việc thanh toán cho hàng hóa… Tuy nhiên, công chức hải quan không được yêu cầu những thứ tài liệu, chứng từ mà mình không rõ là có tồn tại hay không. Ví dụ: báo giá công khai trong khi người bán cung cấp hàng hóa không biết có công bố giá công khai hay không, tên trang web trong khi không biết nhà sản xuất có trang web hay không…
Cơ quan hải quan chịu trách nhiệm xác định trị giá hải quan trong một số trường hợp cụ thể. Khi xác định trị giá, cơ quan hải quan phải ban hành thông báo xác định trị giá theo mẫu. Việc này được thực hiện ở tất cả các tình huống cơ quan HQ xác định trị giá, bao gồm xác định trị giá khi làm thủ tục hải quan, khi kiểm tra sau thông quan, khi thanh tra chuyên ngành về trị giá.
- Về nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan:
Các nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan được quy định từ Điều 4 đến Điều 17 Thông tư 39/2015/TT-BTC. Trước khi ban hành TT60/2019, Điều 4 của TT39/2015 đã bị hủy bỏ và thay thế bằng Điều 25a Thông tư 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 (TT39/2018). Thông tư 60/2019/TT-BTC hủy bỏ Điều 25a TT39/2018, bổ sung lại Điều 4; Sửa điều 5, điều 6, điều 7, điều 12, điều 14, và điều 17.
Về nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hàng hóa xuất khẩu:
Nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan (TGHQ) hàng hóa xuất khẩu được quy định tại Điều 4 của Thông tư 39/2015/TT-BTC nhưng do không quy định chi tiết phương pháp, dẫn đến khó xác định được đúng trị giá hàng hóa trong từng tình huống cụ thể. Sau đó, Thông tư 39/2018/TT-BTC đã hủy bỏ điều 4 Thông tư 39/2015/TT-BTC và quy định Điều 25a, bao gồm 5 phương pháp xác định trị giá hải quan hàng xuất khẩu.
Tuy nhiên, từ năm 2018 đến nay, việc xác định TGHQ vẫn gặp khó khăn do quy định tại Điều 25a TT39/2018 chưa hướng dẫn cụ thể việc sử dụng thông tin xác định trị giá, cách thức xem xét, cân nhắc các khoản chi phí phát sinh trong quá trình bán và xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là đối với hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới đường bộ.
Tại TT60/2019 đã quy định cụ thể và xử lý các vướng mắc này, chuyển toàn bộ quy định về nguyên tắc và phương pháp hàng xuất khẩu hiện đang quy định tại khoản 14 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC về Thông tư này:
- Nguyên tắc xác định trị giá hàng xuất: trị giá hàng xuất là giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất, không bao gồm I và F (Khoản 2 Điều 86 Luật Hải quan). Trên cơ sở nguyên tắc này, có các phương pháp xác định trị giá hải quan hàng xuất khẩu là: xác định giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất; xác định giá bán của hàng hóa xuất khẩu giống hệt hoặc tương tự tại cơ sở dữ liệu trị giá hải quan; xác định giá bán của hàng hóa giống hệt hoặc tương tự tại thị trường Việt Nam; xác định giá bán của hàng hóa xuất khẩu do cơ quan hải quan thu thập, tổng hợp, phân loại; và xác định trị giá hải quan trong trường hợp hàng hóa xuất khẩu không có hợp đồng mua bán và không có hóa đơn thương mại.
- Phương pháp xác định trị giá theo giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất được quy định chi tiết theo giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất theo từng điều kiện giao hàng xuất khẩu khác nhau gồm giao hàng tại cửa khẩu xuất, giao hàng trong nội địa Việt Nam và giao hàng tại địa điểm giao hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Ngoài ra, Thông tư cũng bổ sung nội dung mở rộng khái niệm hàng hóa giống hệt, tương tự tại phương phágiá bácủhàng hóa xuất khẩu do cơ quan hải quan thu thập, tổng hợp, phân loại như quy đnh đối vớhàng nhập khẩđể đbảtính thống nhất.
Về nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hàng hóa nhập khẩu: Thông tư 60/2019/TT-BTC có 5 nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng là:
Một là, quy định về xác định TGHQ của máy móc, thiết bị có chứa phần mềm điều khiển, vận hành nhập khẩu: việc xác định trị giá của hàng hóa nhập khẩu có liên quan đến phần mềm nhập khẩu quy định tại Khoản 4 Điều 6 Thông tư 39/2015/TT-BTC chưa phân biệt rõ trường hợp nào cộng vào máy móc, thiết bị, trường hợp nào cộng vào phương tiện trung gian và chưa quy định đủ các trường hợp cộng hay không cộng phần mềm vào hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị.
Vì vậy, TT60/2019 sửa đổi quy định chi tiết các tình huống trị giá của phần mềm điều khiển, vận hành phải cộng hoặc không phải cộng vào trị giá giao dịch của máy móc, thiết bị; thủ tục khai báo cho người khai hải quan và trình tự kiểm tra, xử lý của cơ quan hải quan để đáp ứng tình hình thực tế hiện nay; đồng thời quy định rõ phần mềm ứng dụng không phải cộng vào trị giá của phương tiện trung gian.
Hai là, quy định về chứng minh mối quan hệ đặc biệt có hay không ảnh hưởng đến giá cả mua bán trong giao dịch mua bán hàng hóa nhập khẩu: TT39/2015 chưa quy định rõ chứng từ, tài liệu nào cần xuất trình để chứng minh mối quan hệ đặc biệt không ảnh hưởng đến trị giá và trình tự, thủ tục thực hiện việc kiểm tra mối quan hệ đặc biệt.
TT60/2019 sửa đổi quy định các chứng từ, tài liệu yêu cầu doanh nghiệp xuất trình; trường hợp cơ quan hải quan bác bỏ hoặc chấp nhận; trường hợp phải tổ chức đối thoại nhằm tăng cường tính minh bạch, tạo điều kiện cho người khai hải quan và công chức hải quan dễ dàng áp dụng vào thực tế.
Ba là, quy định về phí bản quyền, phí giấy phép: TT60/2019 sửa đổi quy định về điều kiện liên quan đến hàng hóa nhập khẩu” và “như một điều kiện mua bán” để phù hợp với các khuyến nghị của WCO(Khuyến nghị 24.1 ban hành năm 2016)bổ sung xử lý của cơ quan hải quan đối với trường hợp người khai hải quan khai báo đúng về phí bản quyềđể phù hợp với thực tế và đảm bảo đầđủ các trường hợp; sửa đổi mô tả chi tiết các giao dịch tại các tình huống về phí bản quyền tại Phụ lục I Thông tư số 39/2015/TT-BTC nhằm đảm bảo dễ hiểu, dễ áp dụng.
Bốn là, quy định về phương pháp suy luận (phương pháp 6): Điều 12 TT39/2015 quy định nguyên tắc xác định trị giá theo phương pháp suy luận, những trường hợp không được sử dụng, suy luận bằng cách áp dụng linh hoạt các phương pháp từ phương pháp 2 đến phương pháp 5 nhưng chưa có quy định áp dụng linh hoạt từ phương pháp 1.
Do đó, Thông tư 60/2019/TT-BTC đã sửa đổi quy định chi tiết việc vận dụng linh hoạt từng phương pháp đúng theo nguyên tắc trình tự để xác định trị giá hải quan; bổ sung phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu là một phương pháp được vận dụng và phải được vận dụng đầu tiên; Bổ sung quy định chi tiết trường hợp không được sử dụng giá tham chiếu trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có rủi ro về trị giá để xác định trị giá hải quan cho hàng hóa, thống nhất với nguyên tắc sử dụng Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có rủi ro về trị giá.
Năm là, quy định về xáđịnh trị giá đối với một số trường hợp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đặc thù: Tại Điều 17 TT39/2015 chưa có quy định cho trường hợp hàng hóa đã qua sử dụng tại Việt Nam, có thay đổi mục đích sử dụng so với mục đích đã được xác định miễn thuế; chưa quy định rõ cho hàng bưu kiện gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh và chưa quy định trị giá hải quan của hàng hóa đi mượn
Thông tư 60/2019/TT-BTC quy định chi tiết việc xác định trị giá hải quan cho các trường hợp hàng hóa nhập khẩu đã được xác định miễn thuế do thuộđối tượng không chịu thuế, miễn thuếxét miễn thuế, nay thay đổi mục đích sử dụng nên phải khai, tính toán và nộp thuế nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu được vận chuyển đến Việt Nam bằng dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh nhưng không có hợp đồng mua bán và hóa đơn thương mại; hàng hóa đi thuê, mượn.
- Về cơ sở dữ liệu trị giá
Một trong những nội dung sửa đổi quan trọng của Thông tư 60/2019/TT-BTC là bổ sung quy định về việc xây dựng, sử dụng Danh sách doanh nghiệp có rủi ro về trị giá hải quan. Theo đó, việc kiểm tra trị giá sẽ thực hiện theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có rủi ro về trị giá và Danh sách doanh nghiệp có rủi ro về trị giá hải quan để đảm bảo việc kiểm tra tập trung trọng tâm, trọng điểm theo nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro.
 “Điều 24. Tiêu chí xây dựng, bổ sung, sửa đổi mặt hàng trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu rủi ro về trị giá, Danh sách doanh nghiệp có rủi ro về trị giá hải quan
 3. Doanh nghiệp có rủi ro về trị giá hải quan:
 a) Tại thời điểm đánh giá, bị cơ quan hải quan đánh giá là doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật;
 b) Tại thời điểm đánh giá, bị cơ quan hải quan phân loại là doanh nghiệp rủi ro cao hoặc doanh nghiệp rủi ro rất cao hoặc doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa dưới 365 ngày;
 c) Trong thời gian 730 ngày (02 năm) trở về trước tính đến ngày đánh giá, doanh nghiệp bị cơ quan hải quan xử lý vi phạm về hành vi khai sai trị giá hải quan dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, với mức độ xử phạt và số tiền xử phạt theo quy định tại Thông tư của Bộ Tài chính quy định về quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan; hoặc bị cơ quan quản lý nhà nước xử lý vi phạm về hành vi gian lận thuế, trốn thuế.”
Thông tư 60/2019/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 15/10/2019 sẽ giải quyết được các vướng mắc, vấn đề còn tồn tại trong quá trình khai báo, kiểm tra trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, giúp việc khai báo của người khai hải quan, cũng như việc kiểm tra của cơ quan hải quan được dễ dàng và minh bạch hơn.
                                                         Biện Hoài (Phòng Nghiệp vụ)
 
 
 

Tin cùng chuyên mục