Hai quan Ha Tinh - Hatinh Customs Department

Tin tức

Một số nội dung sửa đổi về Biểu thuế xuất khẩu ban hành kèm theo Nghị định số 57/2020/NĐ-CP ngày 25/05/2020 của Chính phủ

7/16/2020 4:19:35 PM

Ngày 25/5/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và Nghị định số 125/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP.

Theo đó, Nghị định 57/2020/NĐ-CP được ban hành với mục đích: Thống nhất với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam (đã được sửa đổi năm 2017); giải quyết các kiến nghị, vướng mắc của Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố, Đại sứ quán Mỹ, Hiệp hội, doanh nghiệp phát sinh trong thời gian qua; Thực hiện chủ trương, định hướng của Chính phủ về thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp ô tô, công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô và các ngành cơ khí khác; Cải cách thủ tục hành chính, đơn giản Biểu thuế, tạo thuận lợi cho công tác quản lý thu thuế của cơ quan hải quan và hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.

Cụ thể, Nghị định 57/2020/NĐ-CP ban hành 04 Phụ lục thay thế cho 4 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 125/2017/NĐ-CP để thống nhất với danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện biểu thuế gồm: (1) Phụ lục I - Biểu thuế xuất khẩu theo danh mục mặt hàng chịu thuế; (2) Phụ lục II - Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế; (3) Phụ lục III - Danh mục hàng hoá và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp đối với mặt hàng xe ô tô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe), đã qua sử dụng; (4) Phụ lục IV - Danh mục hàng hoá và mức thuế suất thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan đối với các mặt hàng thuộc diện áp dụng hạn ngạch thuế quan.

Đối với Biểu thuế xuất khẩu, Nghị định 57 đã có một số sửa đổi quan trọng như sau:

Tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 57/2020/NĐ-CP sửa đổi quy định về kê khai tên hàng và mã hàng đối với các mặt hàng thuộc nhóm có STT 211 tại Biểu thuế xuất khẩu: “Vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm không quy định ở trên có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên”, đồng thời sửa đổi bổ sung điều kiện xác định mặt hàng xuất khẩu thuộc nhóm hàng STT 211:

* Điều kiện 1: Vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm (gọi chung là hàng hoá) không thuộc các nhóm có STT từ 01 đến STT 210 tại Biểu thuế xuất khẩu.

* Điều kiện 2: được chế biến trực tiếp từ nguyên liệu chính là tài nguyên, khoáng sản có tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên. Việc xác định tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên thực hiện theo quy định tại Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế và Nghị định số 146/2017/NĐ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP.

Tại Phụ lục I – Biểu thuế xuất khẩu quy định cụ thể tên 07 mặt hàng thuộc nhóm có STT 211 với mức thuế xuất khẩu là 5% bao gồm: Clanhke; Hắc ín chưng cất từ than đá, than non, than bùn; Dầu và các sản phẩm khác từ chưng cất hắc ín than đá ở nhiệt độ cao; Nhựa chưng (hắc ín) và than cốc nhựa chưng, thu được từ hắc ín than đá hoặc hắc ín khoáng chất khác; Đá phiến; Đá làm tượng đài; Đá phiến đã gia công.

- Tăng thuế suất mặt hàng ống và ống dẫn bằng đồng thuộc nhóm 74.11 từ 0% lên 5%;

- Sửa đổi tiêu chí và tăng thuế suất Bột oxit silic từ 5% lên 10%;

- Gộp 02 dòng thuế của Mặt hàng nhôm chưa gia công thuộc nhóm 76.01 thành 01 dòng.

Như vậy, Biểu thuế xuất khẩu ban hành kèm theo Nghị định 57/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/7/2020 với những nội dung sửa đổi, bổ sung về cơ bản đã giải quyết được các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện nghiệp vụ của hải quan địa phương và tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu./.

                                Biện Hoài - PNV

 

 

Tin cùng chuyên mục