Hai quan Ha Tinh - Hatinh Customs Department

Giới thiệu văn bản mới

Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế

11/6/2020 1:56:25 PM

Nghị định số 126/2020/NĐ-CP có 9 chương, 44 điều, có hiệu lực từ thi hành từ ngày 05/12/2020.

Theo đó, Nghị định quy định về các nội dung khai thuế, tính thuế; ấn định thuế; thời hạn nộp thuế, trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; hoàn thuế, khoanh tiền thuế nợ, xoá nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; trách nhiệm cung cấp thông tin, công khai thông tin người nộp thuế người nộp thuế và trách nhiệm của ngân hàng thương mại; quy định về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế, trừ nội dung quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, áp dụng hóa đơn, chứng từ, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực về thuế và hóa đơn, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Ngoài ra, Nghị định còn có một số vấn đề khác được Chính phủ giao như uỷ nhiệm thu, mua thông tin dữ liệu phục vụ công tác quản lý thuế và cơ chế thoả thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.

Trong đó, Nghị định quy định một số nội dung cơ bản cần lưu ý liên quan đến lĩnh vực Hải quan như:

Khoản 10 Điều 13 Nghị định quy định về các trường hợp cơ quan Hải quan tính thuế, thông báo thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu .

Điều 17 Nghị định quy định Ấn định thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu với những nội dung như các trường hợp ấn định thuế, trình tự ấn định thuế; thời hạn nộp tiền thuế ấn định; thẩm quyền quyết định ấn định thuế, sửa đổi, bổ sung quyết định ấn định thuế, hủy quyết định ấn định thuế và trách nhiệm của người khai thuế.

Đặc biệt, đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52 Luật Quản lý thuế và khoản 4 Điều 17 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, như: Người khai thuế sử dụng các tài liệu không hợp pháp trong hồ sơ hải quan, hồ sơ miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế để khai thuế, tính thuế; người khai thuế không kê khai hoặc kê khai không chính xác; người khai thuế không chấp hành quyết định kiểm tra thuế… thì cơ quan hải quan tính toán số tiền thuế ấn định căn cứ vào tên hàng, số lượng, chủng loại, mã số, xuất xứ, trị giá, mức thuế, tỷ giá tính thuế, phương pháp tính thuế.

Trường hợp ấn định thuế một phần trong tổng số hàng hóa cùng chủng loại thuộc nhiều tờ khai hải quan khác nhau, trên các tờ khai xuất khẩu hoặc nhập khẩu lần đầu đã xác định được số tiền thuế thì số tiền thuế ấn định là số tiền thuế trung bình được tính theo công thức: số tiền thuế ấn định = (Tổng số tiền thuế của hàng hóa cùng chủng loại tại các tờ khai hải quan/Tổng số hàng hóa cùng chủng loại tại các tờ khai hải quan) x Số lượng hàng hóa ấn định thuế.

Nghị định còn quy định một số nội dung khác liên quan như: quy định về thẩm quyền, các biện pháp, trình tự thủ tục về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế (Chương VII); quy định về doanh nghiệp ưu tiên trong lĩnh vực hải quan, theo đó, Doanh nghiệp ưu tiên thực hiện theo quy định tại Luật Hải quan và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn có liên quan và thực hiện theo quy định tại Nghị định này (Điều 38); quy định về ủy nhiệm thu thuế và các khoản thu khác; quy định về mua thông tin, tài liệu, dữ liệu của các đơn vị cung cấp để phục vụ công tác quản lý thuế (Điều 40).Trường hợp tờ khai hải quan nhập khẩu lần đầu là hàng hóa không thuộc đối tượng chịu thuế hoặc không có số liệu về số tiền thuế hoặc tờ khai hải quan đã bị hủy theo quy định của pháp luật về hải quan hoặc không có tờ khai hải quan, cơ quan hải quan căn cứ vào tên hàng, chủng loại, trị giá, mã số, xuất xứ, mức thuế, phương pháp tính thuế của hàng hóa giống hệt hoặc hàng hóa tương tự đang được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan để thực hiện ấn định thuế. Tỷ giá tính thuế áp dụng tỷ giá tại thời điểm ban hành quyết định ấn định thuế.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định một số nội dung cơ bản cần lưu ý liên quan đến người nộp thuế, cơ quan thuế, cụ thể như:

Một trong những nội dung của Nghị định này được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm là quy định về quản lý thuế đối với người nộp thuế người nộp thuế trong thời hạn tạm ngừng hoạt động, hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn.

Theo đó, người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp tạm ngừng hoạt động, kinh doanh không trọn tháng, quý, năm dương lịch, hoặc năm tài chính. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán sẽ được cơ quan thuế xác định lại nghĩa vụ thuế tương ứng với thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh.

Trong thời gian ngừng, nghỉ hoạt động, người nộp thuế không được sử dụng hóa đơn. Nếu kinh doanh trở lại đúng thời hạn đã đăng ký, thì không phải thông báo, nhưng hoạt động trở lại trước thời hạn thì phải thông báo với cơ quan quản lý nơi đã đăng ký tạm ngừng hoạt động, kinh doanh, đồng thời thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về thuế.

Một điểm khác người nộp thuế cần lưu ý khi có thay đổi về vốn trong năm thì người nộp thuế phải nộp lại hồ sơ khai lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30/01 năm sau năm phát sinh thông tin thay đổi (Điều 10 Nghị định 126/2020/NĐ-CP).

Luật Quản lý thuế số 38 đã sửa đổi, bổ sung các trường hợp được khoanh tiền thuế nợ, xoá nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt. Để rõ ràng, minh bạch trong việc khoanh nợ, Nghị định 126/2020 đã quy định cụ thể về thành phần hồ sơ, thời gian, trình tự thủ tục đối với từng trường hợp cụ thể.

Đồng thời, khi xem xét khoanh nợ, thủ trưởng cơ quan thuế phải ban hành quyết định khoanh tiền thuế nợ đối với các trường hợp đủ điều kiện. Đối với các khoản thuế được miễn, giảm, không thu, xóa nợ phát sinh trước ngày 01/7/2020 thì tiếp tục xử lý theo quy định tại Luật Quản lý thuế 2006 đã được sửa đổi tại Luật số 21/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13, Luật số 106/2016/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Đối với các khoản tiền nợ thuế đến hết ngày 30.6.2020 thì được xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019 và Nghị định 126/2020/NĐ-CP (trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 43 Nghị định 126/2020/NĐ-CP). Các trường hợp được Chính phủ cho phép gia hạn thời gian nộp thuế, thì tiếp tục thực hiện theo quy định.

Các trường hợp được Chính phủ cho phép gia hạn thời gian nộp thuế thì được tiếp tục thực hiện theo quy định của Chính phủ. Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn các trường hợp thuộc diện kê khai thuế theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 11 Nghị định 126/2020/NĐ-CP đảm bảo thực hiện cho năm đầu tiên của thời kỳ ổn định ngân sách tiếp theo kể từ khi Luật Quản lý thuế 2019 và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành. 

Huyền Trang - CBL&XLVP

Tin cùng chuyên mục