Hai quan Ha Tinh - Hatinh Customs Department

Triển khai, thực hiện

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN về chủ trương xây dựng Đề án nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị

8/31/2016 10:04:10 AM

 Nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị là nội dung hết sức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Để đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với các tổ chức, cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức đoàn thể các cấp về bộ máy, biên chế, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kết luận số 05-KL/TU, ngày 29/6/2016 và thống nhất chủ trương xây dựng “Đề án nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị” (sau đây gọi tắt là Đề án).

I. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỘ MÁY, BIÊN CHẾ CỦA HÀ TĨNH HIỆN NAY

1. Tình hình chung

Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên trên 6.000 km2; dân số gần 1,3 triệu người; có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, 262 xã, phường, thị trấn. Đảng bộ tỉnh có 20 đảng bộ trực thuộc (gồm 13 đảng bộ huyện, thành phố, thị xã và 07 đảng bộ cơ quan, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang); với 747 đảng bộ, chi bộ cơ sở và 4.158 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở; có trên 94.000 đảng viên.

Toàn tỉnh có 1.213 cán bộ, công chức, viên chức thuộc khối đảng, đoàn thể cấp tỉnh và cấp huyện; 458 cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; 35.742 cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại 1.229 cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp (trong đó, một số ngành có cán bộ, công chức, viên chức đông như: ngành giáo dục có 22.434 người, ngành y tế 3.089 người, ngành nông nghiệp 756 người…).  

2. Một số kết quả đạt được trong thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế của tỉnh

 Thời gian qua, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng, nhất là từ khi thực hiện Kết luận số 08-KL/TU, ngày 09/12/2011 Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII và Nghị quyết số 26/NQ-HĐND, ngày 16/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVI về “Đề án sắp xếp, kiện toàn các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, ban quản lý dự án và các tổ chức hội”; Quyết định số 2286/QĐ-UBND ngày 08/8/2012 về “phê duyệt Đề án quy hoạch hệ thống trường mầm non và phổ thông Hà Tĩnh đến năm 2020” và Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 22/3/2012 về việc “tăng cường chỉ đạo sáp nhập thôn, tổ dân phố” của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Đã chuyển giao quản lý 07 đơn vị sự nghiệp từ sở, ngành về UBND cấp huyện quản lý (Đài Truyền thanh - Truyền hình, Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, Trạm bảo vệ thực vật, Trạm Thú y, Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Trạm Y tế cấp xã, Trung tâm y tế dự phòng cấp huyện); Đã sáp nhập Chi cục Lâm nghiệp vào Chi cục Kiểm lâm;

Sáp nhập 805 trường xuống còn 703 trường (trong đó, mầm non công lập giảm 15 trường, tiểu học giảm 42 trường, THCS giảm 43 trường, THPT giảm 2 trường);

Sáp nhập 2.837 thôn, tổ dân phố xuống còn 2.140 thôn, tổ dân phố (giảm 697 thôn, tổ dân phố); Sáp nhập 1.015 thôn, tổ dân phố có quy mô nhỏ hơn quy mô quy định tại Điều 7, Thông tư 04/2012/TT-BNV ngày 31/8/2012 xuống còn 896 thôn, tổ dân phố (giảm 129 thôn, tổ dân phố). 

  Các tổ chức, trường học, thôn, xóm mới sau khi kiện toàn, sắp xếp lại đã sớm ổn định và đi vào hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy tinh gọn hơn, công tác quản lý, chỉ đạo được tăng cường; việc phối hợp giữa các sở, ban, ngành với UBND cấp huyện trong chỉ đạo, điều hành, triển khai các hoạt động quản lý nhà nước được tăng cường chặt chẽ, phát huy hiệu quả hơn.

  Giảm được số lượng biên chế đáng kể (năm 2015 giảm 297 người, năm 2016 giảm 117 người) và giảm hơn 14.000 cán bộ thôn, xóm, góp phần tiết kiệm ngân sách chi thường xuyên cho tỉnh (tính riêng tổng ngân sách chi cho mức phụ cấp của những người thực hiện nhiệm vụ ở thôn, tổ dân phố giảm gần 74 tỷ đồng/năm); đồng thời tăng tính tự chủ, năng động, sáng tạo theo hướng xã hội hóa của các địa phương, đơn vị.

Nhiệm kỳ 2011 - 2016, Hà Tĩnh có 22 xã và đầu nhiệm kỳ 2016 - 2021 có 12 xã thực hiện mô hình bí thư đảng ủy đồng thời làm chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn. Huyện Đức Thọ thí điểm mô hình Bí thư Huyện ủy đồng thời làm Chủ tịch UBND; Huyện Hương Sơn thực hiện nhất thể hóa chức danh Phó Ban Tuyên giáo Huyện ủy đồng thời là Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện. Việc triển khai các mô hình đã đạt được những kết quả bước đầu: tạo sự thống nhất trong điều hành; bí thư đảng ủy nắm bắt rõ hơn tình hình ở địa phương, kịp thời chỉ đạo xây dựng nghị quyết, đề ra các chủ trương sát với thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, những chủ trương cấp ủy chỉ đạo, được chính quyền tổ chức thực hiện nhanh chóng, góp phần giảm được khâu truyền đạt, báo cáo, xin ý kiến, tránh hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm và chấm dứt thực trạng Đảng ra nghị quyết, chính quyền chậm triển khai thực hiện.

Việc rà soát, sắp xếp lại nhân sự, bố trí sử dụng công chức, viên chức cơ bản phù hợp theo cơ cấu, vị trí việc làm, từng bước góp phần nâng cao tinh thần, trách nhiệm, chất lượng, hiệu quả công việc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ thôn, xóm.

 3. Một số khó khăn, hạn chế trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, điều hành của chính quyền, tổ chức bộ máy, biên chế hiện nay của tỉnh

 So với yêu cầu nhiệm vụ, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền các cấp nhiều mặt còn hạn chế;

Tổ chức bộ máy các cơ quan trong hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh; chức năng, nhiệm vụ một số cơ quan, đơn vị còn chồng chéo, thiếu thống nhất trên một số mặt công tác;

Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức năng lực chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, trách nhiệm thực thi công vụ chưa cao, đặc biệt là ý thức của một số cán bộ trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp; vai trò của người đứng đầu một số sở, ban, ngành, địa phương chưa rõ nét;

Cải cách hành chính còn nhiều hạn chế, nhất là thủ tục hành chính rườm rà, tiến độ giải quyết công việc còn chậm; hoạt động của các đơn vị sự nghiệp, bộ phận “một cửa”, “một cửa liên thông”, Trung tâm xúc tiến đầu tư chưa thực sự hiệu quả, ảnh hưởng lớn đến kết quả phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Chỉ số PCI (chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) đang ở mức thấp, không ổn định (Hà Tĩnh xếp thứ 56/63 (năm 2010), 7/63 (năm 2011), 35/63 (năm 2012), 45/63 (năm 2013), 35/63 (năm 2014), 45/63 (năm 2015)); chỉ số cải cách hành chính không được cải thiện trong 3 năm 2012, 2013, 2014 đều xếp thứ 16/63.

Việc sáp nhập ở một số địa phương, đơn vị chỉ mang tính cơ học, chủ yếu là nhập bộ máy; còn thực tế hoạt động của bộ máy sau khi sáp nhập, chia tách, điều chỉnh hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

          II. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Nghiên cứu văn bản  

 * Các văn bản của Trung ương

- Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”;

- Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 15/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”;

- Kết luận số 24-KL/TW, ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị khóa XI về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo”;

- Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”;

- Kế hoạch số 12-KH/TW, ngày 18/9/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”;

- Quy định số 220 - QĐ/TW ngày 27/12/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khoá XI) v“Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ, thành uỷ trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ;

- Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về “Tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”;

- Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của Chính phủ về “Chính sách tinh giản biên chế”;

- Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ về “Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh”;

- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng;

- Thông báo số 05-TB/VPTW, ngày 27/4/2016 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết quả chuyến thăm và làm việc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại tỉnh Hà Tĩnh.

 * Các văn bản của tỉnh

 - Chỉ thị số 35-CT/TU, ngày 04/11/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xiết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang.

- Kết luận số 05-KL/TU ngày 25/5/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tiếp tục chỉ đạo xiết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang”.

- Quyết định số 33/2011/QĐ-UBND ngày 03/11/2011 của UBND tỉnh về xiết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và chiến sỹ lực lượng vũ trang”.

- Kết luận số 08-KL/TU, ngày 09/12/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII về “Đề án sắp xếp, kiện toàn các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, ban quản lý dự án và các tổ chức hội”;

- Nghị quyết số 26/2011/NQ-HĐND ngày 26/12/2011 của HĐND tỉnh khóa XVI về “phê duyệt Đề án sắp xếp, kiện toàn các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, ban quản lý dự án và tổ chức hội”;

- Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 22/3/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tăng cường chỉ đạo sáp nhập thôn, tổ dân phố;

- Thông báo số 350/TB-UBND ngày 03/9/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về “Kết luận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại Hội nghị trực tuyến Tăng cường, đẩy mạnh cải cách hành chính”;

- Thông báo số 154/TB-UBND ngày 15/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về “Kết luận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại Hội nghị trực tuyến đẩy mạnh cải cách hành chính năm 2015”.

- Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 với 3 nhiệm vụ đột phá, trong đó có “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ” và “thực hiện đồng bộ cải cách hành chính”.

- Kết luận số 05-KL/TU, ngày 29/6/2016 về một số chủ trương nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị

          2. Học tập kinh nghiệm

Các địa phương, đơn vị căn cứ vào tình hình thực tiễn, thành lập các đoàn đi học tập kinh nghiệm tại một số địa phương thuộc các tỉnh đã triển khai thực hiện Đề án.

 3. Ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn; tổ chức quán triệt sâu rộng

 Căn cứ các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh và sau khi học tập kinh nghiệm, các địa phương, đơn vị chủ động ban hành văn bản thuộc thẩm quyền để triển khai chủ trương và tổ chức quán triệt, tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, nhân dân.

           4. Thành lập Ban chỉ đạo, Tổ biên tập xây dựng Đề án

   Sau khi tổ chức quán triệt, tuyên truyền trong đội ngũ cán bộ cốt cán, các địa phương, đơn vị ban hành kế hoạch, quyết định thành lập Ban Chỉ đạo, Tổ biên tập xây dựng Đề án.

5. Tổ chức rà soát, đánh giá thực trạng

Các địa phương, đơn vị tiến hành rà soát, đánh giá đúng thực trạng về phương thức lãnh đạo của Đảng, về tình hình bộ máy, biên chế, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo Đề cương khảo sát của Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án tỉnh.

6. Tổ chức xây dựng, phê duyệt Đề án

Sau rà soát, đánh giá, các địa phương, đơn vị tiến hành xây dựng Đề án của địa phương, đơn vị mình và trình cấp trên phê duyệt. Việc thẩm định, phê duyệt đề án thực hiện theo nguyên tắc: Ban Chỉ đạo cấp tỉnh thẩm định, phê duyệt đề án cấp huyện và các sở, ban, ngành; ban chỉ đạo cấp huyện thẩm định, phê duyệt đề án của cấp cơ sở và các phòng, ban cấp huyện; các ban, sở, ngành, đoàn thể cấp tỉnh do người đứng đầu phê duyệt đề án các đơn vị.

7. Triển khai thực hiện Đề án

 Sau khi Đề án được phê duyệt, các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án theo đúng lộ trình. Cấp ủy cấp trên tổ chức kiểm tra, giám sát việc chỉ đạo, triển khai thực hiện Đề án của cấp dưới.

III. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI

Trước thực trạng của công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của cấp ủy, chính quyền; tổ chức bộ máy, biên chế của tỉnh hiện nay, cần thiết phải nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về sắp xếp lại tổ chức, bộ máy các cơ quan, đơn vị .

Để thực hiện hiệu quả, đồng bộ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII với các nhiệm vụ đột phá nhằm “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ” và “thực hiện đồng bộ cải cách hành chính”, Ban Thường vụ Tỉnh ủy thống nhất cao chủ trương xây dựng “Đề án nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị”. Triển khai xây dưng, thực hiện Đề án là việc làm hết sức khó khăn, nhạy cảm, ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của một số cán bộ, công chức, viên chức… Tuy nhiên, để xây dựng một nền hành chính “kiến tạo, phục vụ, liêm chính”, các địa phương, đơn vị phải thống nhất quan điểm chỉ đạo và thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

1. Tất cả các cấp ủy đảng, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành xây dựng “Đề án nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị”.

2. Việc sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế từ cấp huyện đến cơ sở phải căn cứ vào tình hình thực tiễn của địa phương, theo hướng xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn, hiệu quả, khắc phục tình trạng chồng chéo, nhiều tầng nấc trung gian, hoạt động không hiệu quả. Không nhất thiết ở tỉnh có tổ chức nào thì ở cấp huyện cũng có tổ chức đó; từng bước rà soát để sáp nhập một số cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức trong hệ thống chính trị có chức năng, nhiệm vụ tương đồng, nhất thể hóa lãnh đạo khi thực tiễn thấy cần thiết.

3. Tiến hành xây dựng đề án từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh, theo từng lĩnh vực, địa phương, đơn vị nhưng phải đảm bảo đồng bộ, thống nhất trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Chú ý có những vấn đề thực tiễn đòi hỏi phải thực hiện nhưng chưa có trong quy định thì vẫn mạnh dạn triển khai, từ đó tổng kết, đánh giá, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung.

4. Kịp thời triển khai xây dựng Trung tâm hành chính công của tỉnh và của một số huyện, thị xã, thành phố, nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản trị và hành chính công, xây dựng nền hành chính của tỉnh hiện đại, công khai, minh bạch, trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.

 5. Các bước tiến hành phải đảm bảo dân chủ, tránh làm đơn giản hóa, nóng vội, áp đặt; phải kế thừa những kết quả của tỉnh thời gian qua; học tập kinh nghiệm của các địa phương trong cả nước nhưng phải sáng tạo, phù hợp với thực tiễn, không rập khuôn, máy móc; phương châm tiến hành từng bước, thận trọng, làm đến đâu chắc chắn đến đó; một số việc chọn đơn vị làm điểm, rút kinh nghiệm để nhân rộng.   

 6. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ trương xây dựng “Đề án nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị” thông qua nhiều hình thức và triển khai trong suốt quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện Đề án. Nhất là quán triệt sâu nội dung Kết luận 64-KL/TW, Nghị quyết 39-NQ/TW, Nghị định 108/NĐ-CP và Kết luận 05-KL/TU, nhằm tạo sự thống nhất, quyết tâm chính trị cao của cấp ủy, người đứng đầu và cán bộ, đảng viên, nhân dân trong xây dựng, thực hiện Đề án.

Kết hợp công tác tuyên truyền với việc nắm bắt tình tình tư tưởng của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân; đồng thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng, thực hiện Đề án, để kịp thời có các giải pháp phù hợp, nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.  

 Đối với đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội: Căn cứ tài liệu tuyên truyền và trên cơ sở các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; nắm bắt tình hình dư luận xã hội và phản ánh những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, báo cáo kịp thời về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. 

 Đối với các cơ quan báo chí: Chủ động xây dựng kế hoạch, mở các chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng tin, bài tuyên truyền về chủ trương, quá trình xây dựng, thực hiện Đề án ở các địa phương, đơn vị. Tránh phản ánh các thông tin thiếu khách quan, ảnh hưởng không tốt đến quá trình xây dựng, triển khai Đề án. 

 

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY

 

 

Tin cùng chuyên mục